Duelyst Wiki
Advertisement
Duelyst Tower

Cây Thế Giới chỉ rực rỡ trong kỳ Đại Giao Hội, một chu kì ngắn khi mà tất cả các lục địa xoay quanh nhau thẳng hành một cách chính xác (và đánh dấu thời gian duy nhất mà vùng Monolith có thể chạm tới từ đất liền). Monolith bản thân nó đã hình thành từ kỉ nguyên rất sớm (hầu hết mục đích và lịch sử của nó đã biến mất theo năm tháng.

"Thuần Huyết" là các Duelyst được lựa chọn từ trước khi sinh ra bởi thành quốc của họ để lao vào một hành trình nguy hiểm và cuộc du hành đến Monolith để chiến đấu và mang các Lõi về nhà. Câu chuyện bắt đầu trong Kỉ nguyên Phân rã (Kỉ thứ 6) khi mà thế giới đang tách rời và xoắn ốc thành từng mảnh từ sự hỗn loạn tăng lên. Với nguồn tài nguyên rất giới hạn, mỗi thành quốc dần dần đổi sự tập trung lúc bấy giờ của họ sang cho việc tích trữ càng nhiều Lõi càng tốt để vận hành lục địa. Để tránh khỏi chiến tranh tận diệt (và sự tách rời xoắn ốc theo chiều hướng đi xuống dẫn đến bi kịch cho cả cộng đồng), mỗi quốc gia đồng ý nghiêm ngặt và chuẩn hóa những Thí nghiệm, Luật, và những Tournament để thu tập và phân phát đúng đắn các Lõi. Nhưng sự cân bằng sức mạnh là rất mỏng manh ...

Bản đồ thế giới[ | ]

World Map


Thế giới của Duelyst. Một vùng đất rộng lớn của 6 lục địa, gồm 5 vùng đã bị chiếm bởi gia tộc và vương quốc khác nhau và Aestaria, hòn đảo của Monolith, nép mình ngay chính giữa. Hòn đảo này nổi bật nhờ những thứ tọa lạc tồn tại trên nó điển hình như Hẻm núi Amber, thư viện Alcuin, gỗ Obsibian, và rừng Vermilion.

Đi về phía Tây Bắc là Celandien, nhà của Vương quốc Lyonar. Họ nắm giữ vùng đất đai rộng lớn nhất, cùng với thủ phủ của họ là thành phố Windcliffe. Ở phía Tây Nam của Lyonar bạn sẽ tìm được Crystal Caverns, tọa lạc ngay cạch của dãy Ageonor. Quân đội Lyonar được dẫn dắt bởi Bloodborn General, Argeon Highmayne.

Về phía Tây là Magaari, nhà của Magmar Aspect.

Về phía Tây Nam là Styxus, khu vực của Abyssian Host và là vùng đất nhỏ nhất. Thủ phủ của họ là Shar, thành phố quỷ Malephar. Đạo quân của họ được dẫn dắt bởi Lilithe Blightchaser với cương vị là Bloodbound General của họ. Tộc Abyssian có vài mối quan hệ với nhà Vetruvian, khi mà họ có chung tổ tiên, Emperor Rasha, Vua của những vị vua sở hữu đế chế Akramshan khổng lồ, được biết như là Bloodborn đầu tiên. Mặc dù số đông của tộc Abyss có vẻ như ma mị và đen tối theo vài cách nào đó, họ rõ ràng là con người, tất cả bọn họ đều là nữ. Tàn tích Bloodmoom tọa lạc kế thủ phủ. Đi về hướng Đông Nam là Akram, nhà của Đế quốc Vetruvian. Nó là vùng đất của sa mạc và thủ phủ là Kaero. Một số địa điểm khác bao gồm OstraconLăng mộ Rasha.

Đi về Đông Bắc là Xenkai, nhà của Đế chế Songhai. Thủ phủ là Xaan, và địa danh khác nằm trong vùng này là Whistling Blades.

Những ghi chép cổ xưa[ | ]

Chương 1: Kỉ nguên Phân rã[ | ]

Counterplay-games-duelyst-eyos-bud

The bud of the Great Tree of Eyos

0 AE

Hàng ngàn năm trước khi bình minh của kỉ nguyên hiện đại, một va chạm từ vì tinh tú đã gửi một hạt giống từ sâu thẳm của vũ trụ hỗn loạn đến hành tinh Mythron, thay đổi vùng đất này và cư dân ở dây mãi mãi. Đại lục nguyên thủy Mythron đã phân tách thành 7 lục địa mới, mỗi vết nức trở thành địa hình mới như những vùng núi lởm chởm, hồ tinh thể, và những hòn đảo đầy rẫy những cơn bão luôn càn quét.

Lục địa có khí hậu ông hòa rộng lớn Celandine sẽ trở thành nhà của Vương quốc Lyonar. Đại lục tươi tốt, hiểm hóc Xenkai sẽ trở thành nhà của Đế chế Songhai. Đại lục khô cằn, đơn độc Akram sẽ trở thành nhà của Đế quốc Vetruvian. Đại lục tan vỡ, sâu thẳm Styxus sẽ trở thành nhà của Đạo quân Abyssian. Đại lục sơ khai, núi lửa Magaari sẽ trở thành nhà của Magmar Khổng lồ.Ngọn núi trắng xa xăm, Halcyar sẽ trở thành nhà của tộc Vannar. Và Aesteria, đại lục trung tâm, giờ đã đánh dấu bở hai chiếc nhẫn đông tâm của ngọn núi khổng lồ đẩy lên bởi biến cố địa chất tác động. Tại ngay trung tâm, xuyên suôt một nghìn dặm, tồn tại Gót chân của Chúa, nơi hạt giống sao tạc động lên cái hố.

Sự va chạm cũng đã biến đổi khí hậu của Mythron. Những cơn bão lớn càn quét đã thay đổi hình dạng của hành tinh, sự phá hoại hung dữ của mưa acid và sấm chớp. Những Vũng nước xoáy rộng cả trăm dặm khuấy tung cả đại dương. Nhiệt độ dao động mạnh giữa cái nóng đến bốc hơi và cái lạnh băng giá, là nguyên nhân dẫn đến hầu hết dạng sống trên Mythron bị tiêu diệt. Vài sinh vật thầm lặng đã sống sót được tìm thấy sâu dưới lòng đất hoặc đã thích ứng được với chốn địa ngục khôn dung thứ của Hố núi lửa Mythron. Nhưng trong khi sự biến đổi địa chất xóa sổ vô số loài, nó cũng đã tạo nên các loài mới. Ngay trung tâm của chấn động núi lửa, vì tinh tú đã gửi cái gốc vũ trụ của nó đến lõi của hành tinh, kéo theo năng lượng ma thuật nó tìm thấy ở đó và biến thành Cây thế giới Eyos

Kể từ đây sẽ xuất hiện nhiều sự thay đổi lớn chưa từng có.

Chương 2: Cây thế giới Eyos[ | ]

Anton-fadeev-the-great-tree-of-eyos-1600-logo

The Great Tree of Eyos

10,000 AE

Trải qua hàng ngàn năm, Mythron đã tái sinh một cách ngoạn mục kể từ vụ nổ va chạm từ vì tinh tú. Những sinh vật ở đây đã thích nghi và sinh sôi nảy nở cho đến lúc mà cả hành tinh được bao phủ bởi sự sống.

Cây Eyos cũng đã phát triển, lấy đi năng lượng ma thuật ở trong lõi hành tinh và nảy mầm những chiếc lá rực rỡ trong ánh nắng của mặt trời. Mười ngàn năm sau sự ra đời của Cây thế giới Eyos, nó nở rộ, cả hành tinh được phủ bởi thứ ánh sáng rực rỡ chưa từng có. Một ánh rạng Đông đến choáng ngợp bao phủ cả vùng trời vĩnh viễn, Cây thế giới đã phát tán những đóa hoa "mana" rực rỡ, phóng ra hàng loạt những cánh hoa lấp lánh vào không khí cho cuộc hành trình khám phá thế giới của những ngọn gió trên Mythron.

Mỗi cánh hoa đều mang trong mình một mối liên kết với Eyos, không chỉ các sinh vật đã chạm vào và có được khả năng dẫn dắt nguồn lăng lượng bí ẩn của hành tinh, mà ngay cả chính Cây thế giới đã hình thành trong nó sức mạnh để nhìn thấu thế thới thông qua mắt của nó. Các vật thể được chạm vào cây sẽ biến thành các nút tinh thể của nguồn năng lượng ma thuật, với màu sắc rực rỡ phản ánh các kim loại và khoáng chất mà chúng chứa. Những cánh hoa đã nuôi dưỡi và thúc đẩy một số loài sinh vật và thực vật, sinh vật thì đã có nhận thức còn thực vật thì chưa.

Đi về phương Bắc Núi tuyết dọc theo Halcyar, Cây thế giới đã tạo ra một số giống loài cổ xưa như Snow Chaser hay Draugar Giant. Về phía Đông, ở Xenkai, nó đã biến đổi mạng lưới liên kết của rừng tre trờ thành địa danh Whistling Blades và biến loài sếu cam tráng lệ của vùng đất Ang'mar tĩnh lặng trở thành loài kiến tạo sự sống Zurael. Vào thời điểm cuối cùng của lần trổ hoa đầu tiền, Cây thế giới Eyos lại yên nghỉ, tái tạo lại sức mạnh ma thuật của nó, sau khi mười ba cánh hoa trôi dạt một cách hoàn hảo đến vùng núi lửa Magaari. Những cánh hoa đó đã đậu vào những phiến kim loại sáng chói của những con đực của một loài sinh vật giống như loài drake hiếm thấy được bap phủ bởi vỏ bọc iridium. Tận sâu bên trong núi lửa, không thể xâm phạm và biến dạng, Mẹ của chúng sẽ chết một mình, bị bỏ rơi bởi những đứa con của nó. Nhưng trên mặt đất, mười ba con đực của nó sẽ trở thành lứa Magmar bất tử.

Chương 3: Sự trỗi dậy của tộc Magmar [ | ]

10,000-20,000 AE

Counterplay-games-golden-chrysalis-4-1-2-1600-logo

The Golden Chrysalis, Magaari

Sau khi được Eyos ban phước, tộc Magmar tồn tại hàng trăm năm. Chúng cũng có khẳng năng tự trở mình thành kén để tái sinh một lần nữa, làm chúng gần như bất tử. không có Mẹ, chúng không thể sinh sản, nhưng không vì thế mà chúng không lãnh đạo - trải qua thời gian, một Magmar có tên là Valknu đã trở thành đệ nhất của chúng. Valknu, được biết như là có tốt chất xuất sắc nhất, đã khắm phá ra cách để lưu giữ được nhiều kí ức nhất rồi chuyển đến cho bản thân chúng trong tương lai. Một chu kỳ đòi hỏi chúng phải trải nghiệm và sắp xếp lại kí ức của chúng trong một quá trình được biết đến như là Vũ điệu của Giấc mơ. Để bảo toàn kí ức của chúng qua thời gian, tộc Magmar đã tôi luyện được một loại chú ngữ ma thuật khá giống những bài ca thuần túy lư trữ được kinh nghiệm của giống loài trong một nhóm tri thức được biết với tên gọi là Thập Tam Diện.

Trải qua thiên niên kỉ, loài Magmar đã luyện thành một cách thức để cân bằng thế giới, ánh phản chiếu của sự hài hòa dẫn đến con đường tái sinh vĩnh cửu. Họ đơn độc nhưng lại hành động một cách tự phát, chỉ tập trung vào sự đơn giản và kỳ diệu của thiên nhiên, và tách những ham muốn cá nhân ra khỏi chính mình. Họ gần như rất ít tiếp xúc với bên ngoài, nhưng đôi khi lại đi xa và giao tiếp với những vùng đất khác.

Không giống như những giống loài khác, Magmar học cách tĩnh tâm và trò truyện với cây thế giới Eyos, đôi có thể khi dành nhiều kiếp - hàng trăm năm - chỉ để đối thoại với nó. Vì thế họ đã biết về Thời khắc nở rộ và bắt đầu tôn sùng và ca tụng Eyos như là vị thần ban phát sự sống, phát triển, vàn tái sinh.

Khi đang thiền cùng nhau và liên kết với Cây thế giới, Thập Tam Diện đã có thể thấy được bao quát cả thế giới và thậm chí có thể thấy được cả dòng chảy thời gian, nhưng làm vậy họ trả một cái giá rất đắt, họ lại biết được tương lai của chính mình. Sau cùng, đã không thể đạt được sự giác ngộ hoặc nhìn thấu dấu vết từ tương lai. Vì vậy, họ đã bị nguyền rủa phải lập lại cuộc sống mãi mãi, không bao giờ làm chủ được số phận của chính mình.

=== Chương 4: Ngọn lửa Aestari

20,000-22,000 AE

Counterplay-games-vermillion-forest1-3-warm-logo

Vermillion Forest, Aestaria

Trong lần Nở Rộ thứ Hai, Cây thế giới Eyos lại một lần nữa gửi những cách hoa phép thuật vào hơi gió. Vài trong số đó đã tự tìm đương đến Rừng Vermillion, nơi mà chúng đã tìm thấy loài sinh vật vượn người với mái tóc màu đỏ sẫm. Chúng tự gọi mình là tộc Aestari, hoặc Đứa con của Ngọn lửa vĩnh hằng. Trải qua vài thế hệ, nguồn sức mạnh được ban tặng bởi những cánh hoa đã thay đổi bộ dạng của tộc này.

Aestari có bản năng tự nhiên để nắm giữ và vận hành nguồn năng lượng bí ẩn, nhưng lại có sự khác nhau rõ rệt giữa nam và nữ. Những Aestari nữ có khả năng tập trung và vận hành phép thuật tốt hơn trong dòng chảy vô tận được gọi là Sự trói buộc. Họ có thể tập trung và di chuyển vật thể xa hơn nam giới. Ngược lại, nam giới lại có thể khuếch đại sức mạnh của phép thuật, nhưng chỉ trong những vụ nổ ngắn, được gọi là Sự dâng trào. Nó cho họ khả năng tự nhiên để biến dạng và triệu hồi vật thể hơn là di chuyển chúng một cách chậm chạp. Nhưng Sự dâng trào lại tiêu thụ năng lượng phép thuật rất nhanh, yêu cầu họ phải lấy nhiều năng lượng hiều hơn từ những viên đá năng lượng hoặc phục hồi tự nhiên bằng cách ngưng sử dụng phép cho tới khi có lại năng lượng của họ.

Về những Aestari nữ, tuy nhiên, Sự trói buộc đã nuôi dưỡng một bản năng thiên phú. không ngừng khao khát - bay cao hơn, đạt được thành tựa lớn hơn, để nhìn thấy cả thế giới. Nhưng đỉnh cao nhất của việc làm chủ mọi thứ chỉ có thể đạt được thông qua sức mạnh của đá năng lượng, thứ mà cho phép họ đạt được sức quyền lực và sức mạnh tuyệt đối. Phần lớn trong số họ đều phụ thuộc vào năng lượng của những viên tinh thể, không thể chấp nhận giới hạn tự nhiên nên đã quay lại với cuộc sống phàm tục của mình. Cơn khát sức mạnh ma thuật không có điểm dừng cuối cùng đã chiếm hết toàn bộ tâm trí họ.

Advertisement